CÂY RÂU MÈO

Tên khoa học: Orthosiphon Stamineus Benth.

Họ :  Bạc hà (Lamiaceae)

Tên khác: Cây bông bạc; râu mèo xoắn.

1. Đặc điểm 

Cây thân thảo ​​cao khoảng 30- 60 cm. Thân cây có lông, ít phân nhánh có 4 cạnh, có mép và rãnh dọc, bề mặt phủ nhiều lông mịn khi non có màu xanh, khi già chuyển dần sang màu tím.

Lá đơn độc có hình thoi, mọc đối, mép lá có răng cưa, cuống lá ngắn. Lá màu xanh đậm, có răng cưa ở 2/3 mép. Các gân chính có lông.

Hoa màu trắng. Cụm hoa mọc thành chùm ở đầu cành và đầu ngọn, gồm 6-10 vòng. Nhị và nhụy hoa rất dài, thò ra ngoài giống như râu mèo. Tràng hoa hình ống hẹp, dài 2 cm, hơi cong, môi trên chia 3 thùy.

Quả vuông, kích thước nhỏ, da hơi nhăn.

2. Phân bổ

Cây được trồng ở vùng nhiệt đới Châu Á, Châu Phi. Ở Việt Nam cây được trồng nhiều ở Thanh Hóa, Lâm Đồng , Phú An…

3. Bộ phận dùng

Toàn cây. Rửa sạch loại bỏ tạp chất, thái nhỏ rồi đem phơi nắng hoặc sấy khô.

4. Thành phần hoá học

  • Tinh dầu 0,2% -0,6%, tanin 5 – 6%, ancaloit, saponin, dầu béo, glucoza 5%…
  • Glycosid (kaempferol 3-O-b-glucoside, quercetin 3-O-b-glucoside, escin), orthosiphon, betaine, flavonoid, choline, triterpenoids.
  • Axit hữu cơ glicozit, axit xitric, axit tartaric,…
  • 12% muối vô cơ, đặc biệt là muối kali.

5. Công dụng

Theo y học cổ truyền : Thanh nhiệt giải độc, hạ hỏa, giảm phù nề, lợi tiểu, giảm đau…

Theo y học hiện đại : Lợi tiểu, điều trị sỏi thận , hỗ trợ điều trị bệnh gout, hạ đường huyết, chống oxy hóa, giảm đau, kháng khuẩn, bảo vệ gan.

6. Cách dùng – liều dùng

Râu mèo có dạng thuốc sắc, thuốc bôi, tán bột pha nước uống, cao lỏng… dạng khô, dạng tươi

  • Toàn cây : 30-50g/ ngày (khô).
  • Lá : 5-12g/ ngày (tươi).
  • Cao lỏng : 3-5g/ ngày.

Nước râu mèo pha như trà, pha với 0,5l nước sôi trong 10 phút, chia uống 2 lần / ngày trong 10 ngày liên tục, nghỉ 2-4 ngày rồi mới dùng.