RÂU NGÔ

Tên gọi khác: Bắp, Ngô, Bẹ, Lúa ngô, Ngọc mễ.

Tên khoa học: Zea mays L.

Họ: Thuộc họ Lúa ( Poaceae )

1. Đặc điểm

Cây thân thảo lớn, cao 2-3m. Thân thẳng, phân đốt, đặc, nhẵn, không phân nhánh, các đốt ở gốc mang rễ, các đốt cách nhau khoảng 20 – 30 cm.

Lá hình dải, dài 30-40cm, thường gập xuống, gốc nhẵn sát thân, đầu thuôn nhọn, hai mặt nhám, gân giữa nổi rõ; bẹ lá nhẵn, mép có lông mềm, lưỡi bẹ ngắn, có lông mi.

Hoa đực có màu lục, tạo thành một bông dài tụ lại ngọn. Hoa cái tụ thành một bông to hình trụ ở nách lá và được bao bởi nhiều lá bắc dạng màng. Vòi nhụy có dạng sợi, màu vàng, thành chùm, có thể dài tới 20 cm. Đầu nhụy màu nâu hoặc tím sẫm.

Quả ngô hình trứng, có nhiều hạt, xếp khít nhau tạo thành 8 – 10 dây hạt. Hạt cứng, bóng, nhiều màu sắc, tuy nhiên màu phổ biến là màu vàng.

2. Phân bổ

Cây có nguồn gốc từ Trung Mỹ, hiện phân bố khắp các nơi trên thế giới. Tại Việt Nam, ngô được trồng nhiều ở các địa phương, nhất là vùng trung du và miền núi.

3. Thành phần hóa học

Ngô là một nguồn thiết yếu của nhiều chất hóa học thực vật chính như caroten, hợp chất phenolic và phytosterol.

Trong Râu ngô có chứa:

  • 4 – 5% chất khoáng giàu muối Kali, đường, 2,8% Lipid, Sterol như Sitosterol và Stigmasterol, Tanin, tinh dầu, Allantoin.
  • Trong 1 gram Râu ngô có chứa 1600 đơn vị sinh lý Vitamin K, Vitamin C.

4. Tác dụng

Râu ngô có tác dụng lợi tiểu, điều trị cao huyết áp, viêm bàng quang, sỏi thận, viêm túi mật, viêm gan gây cản trở bài tiết mật, thấp khớp, viêm đau khớp, tiểu đường, cao huyết áp,..

Ngoài ra, râu ngô còn được sử dụng kết hợp với vitamin K để cầm máu.

5. Cách dùng – liều dùng

Râu ngô có thể dùng ở dạng pha, sắc nước uống hoặc chế thành cao loãng.

Mỗi ngày có thể sử dụng 10 – 20 gram râu ngô. Khi dùng có thể sử dụng 10 gram rửa sạch cho vào 200 – 300ml nước đun và sử dụng dần.

Nếu chế thành cao loãng, có thể đóng vào lọ uống ngày 2 – 3 lần, mỗi lần 2 – 3 thìa cà phê, trước bữa ăn.

Liều khuyến cáo mỗi ngày là 30 – 40 gram.